Quê nhà lũ đậu buồn tênh. Tre mơ chim trú lênh đênh chưa về. Mẹ ngồi ru giọt tái tê Chiều soi bóng lũ mà nghe đoạn trường …! …!!
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÌNH THƠ LỤC BÁT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÌNH THƠ LỤC BÁT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

LỤC BÁT QUÊ- Lời Bình : NHÃ MY


Lê Đăng Mành Với LỤC BÁT QUÊ
Lời Bình : NHÃ MY

        Cách đây hơn bốn năm , tôi đọc được một bài thơ lục bát ngắn của tác giả Lê Đăng Mành , đó là một bài thơ tả cảnh với cụm từ ngữ rất đặc sắc:

Chiều tung lưới bủa về tây
Chuồn kim khâu dở lá lay ven bờ
Phù sa lạ bến ngẩn ngơ
Bóng ngày tan giữa đôi bờ tàn phai
“Chiều”

Tuy bài thơ chỉ vỏn vẹn có bốn câu ,tác giả đã không chêm vào thơ những nỗi niềm , cảm xúc nhưng với từ ngữ súc tích , đặc biệt , một cảnh chiều trên sông đã gợi cho tôi, người đọc một cảm giác bảng lảng , bâng khuâng, giữa không gian chiều thân quen với hình ảnh  con chuồn chuồn kim , với lá cây còn lay động ven bờ khi dòng nước chở phù sa còn xuôi chảy vì “ngẩn ngơ'”  chưa  tắp vào bến lạ , giữa cảnh “tàn phai” khi bóng ngày dần tắt ở hướng tây.
Rồi tôi được thêm một bài thơ ngắn nữa tả cảnh ban mai:

Sáng lên nghe giọt sương reo
Bình minh tung nắng thả gieo rộn ràng
Mùa đi về giữa rơm vàng
Nghe mồ hôi đọng quanh làng mà thương!
“Ngày Mùa”

Hai bài thơ , một chiều , một sáng mà tôi  đậc biệt chú ý với cách dùng chữ của tác giả vừa rộng , vừa mạnh , vừa sắc đã khiến câu thơ như  tràn đầy năng lực , sức sống “chiều tung lưới” , “bình minh tung nắng” , một chữ  “tung” gọn gàng , dân giả, bình thường nhưng đặc biệt xiết bao , nó uyển chuyển khi “lưới chiều ngả nắng về tây”, và rộn ràng bừng tỉnh khi mặt trời thả nắng ...Tôi thấy mình thích thơ anh từ đó và cảm thấy  luyến tiếc vì bài thơ chưa đủ dài để người đọc được chiêm nghiệm thêm như  đang trong một bữa cổ ngon mà  phải thèm thuồng vì đồ ăn ít quá !
 Rồi cơ duyên văn nghệ khiến tôi được kết thân với anh , được anh tặng cho những bức thư pháp đẹp viết từ thơ của tôi và hôm nay ,tôi viết bài này như là một đóng góp đồng cảm giữa hai người bạn thơ , tôi mong rằng với nhận xét thô thiển của cá nhân mình  , xin quý bạn hữu  độc giả không xem đây như một bài chính luận mà bỏ qua những sơ sót  ...
        Tác giả Lê Đăng Mành làm rất nhiều thơ , anh làm đủ các thể loại của thơ Đường luật,thơ tự do,thơ haiku , viết phú, hát nói và còn là một nhà thư pháp với nét chữ rất công phu, lại còn chụp nhiều ảnh phong cảnh rất đẹp...Anh cũng là một tác giả cộng tác với rất nhiều trang văn nghệ mạng, là chủ nhân nhiều trang blog như Lê Đăng Mành, Như Thị, Kẻ Văn Thư Pháp , trong số đó có trang Lãm Nguyệt Hiên quy tụ nhiều ngòi bút thơ đường xướng họa,trang Lục Bát  Quê gồm nhiều bài thơ thể lục bát mà hôm nay tôi hân hạnh được đọc và viết lên những dòng cảm tưởng này.
    Lục Bát Quê , như tên gọi của nó gồm những bài thơ nói về quê hương, tình cha mẹ , xóm giềng với giọng thơ khoan nhặt ,khi an phận ,lúc trầm buồn, thủ thỉ tình cảm , rồi  hi vọng vươn lên và hứa hẹn nhiều tốt đẹp...
Quãng Trị quê anh, vùng đất văn vật , nơi khí hậu vô cùng  khắc nghiệt  “nắng cháy da” “rét thấu thịt”,lại bị  hứng chịu nhiều tang thương đổ nát trong thời chiến tranh  và những con lũ thường xuyên tàn phá quê nghèo.
Nơi đó anh đã sinh ra giữa mùa nước lũ và lớn lên trong tình thương của Bà Mẹ Quê thật thà chất phác ,vất vả nuôi con qua bao năm tháng nhọc nhằn :

Chào đời gặp buổi nắng thưa
Cơ hàn chầu chực nước thừa mứa dâng
Lúa non lũ tuốt phũ phàng
Phù sa ngơ ngẩn tẩm bàng hoàng vây...
(....)
...Lũ tràn thâm chiếu sơ sinh
Tôi ngo ngoe níu điêu linh đoạn trường
Phên bừng gió đập rách bươm
Chừ quờ quạng túm muối chờm thậm đau!
Mùa Sanh

Bờ tre gió rúc rên đau
Đàn trâu ớn cỏ đê nhàu rét xuân
Quê nhà lạnh táp đất trân
Mẹ lẩy bẩy vịn cơ hàn đong giêng!
Rét giêng xuân

Vẫn còn đây nỗi can qua
Mùa đông thiếu ấm nứt xa xót mầm
Đời gian khó Mẹ trầm ngâm
Mong gieo hạt mới gọi thầm tương lai
Hương Xuân

Nón tơi sương gió trùng vây
Hai vai mẹ gánh những ngày bão giông...
Mẹ Quê

Mây phiêu lãng bủa dật dờ
Mẹ truân chuyên gánh xác xơ lạnh lùng
Cha gieo bóng đổ ung dung
Hỏi ai còn nhớ gốc chung hội cày ?
 Rét giêng hai
Phong cảnh quê hương nghèo được anh vẽ bằng những nét u buồn ,với một tấm tình yêu quê chân thật, bằng những vần thơ tha thiết :

Quê nhà lũ đậu buồn tênh.
Tre mơ chim trú lênh đênh chưa về.
Mẹ ngồi ru giọt tái tê
Chiều soi bóng lũ mà nghe đoạn trường
lũ Chiều

Lụt ơi! sao quá buông tuồng
Ngông nghênh sục sạo chẳng thương mái nghèo!
Thu gầy lạc dấu trăng treo
Trâu mơ lối cỏ, gà đeo bụi bờ
Tao nôi gieo giọng thẫn thờ
Thềm thơ nước vỗ chan bờ bể dâu
Rơm trôi quên tuổi dãi dầu...
Dấu Chấm Than

Nắng cong chiều cúi ngẩn ngơ
Thời gian hấp hối ngày thờ thẫn chi
Mây hờn rơi hạt chia ly
Khói leo mái rạ tà huy thậm buồn
Chiều Đi

Hay tà cảnh cố đô trầm lắng , rêu phong thành quách không tránh được hưng phế của thời gian , khi thời hoàng kim cũ đã lui vào quá khứ lảng quên :

Về Huế rủ bụi tang bồng
Qua nền Xã Tắc tủi phong rêu mình
Cột cờ gió trở lặng thinh
Triều nghi văn võ ngông nghênh mô rồi
Văn lâu khoa bảng một thời
Hồn lên Văn Thánh bia phơi miệng đời
Bến đò Thừa Phủ chao ơi !
Tắt câu mái đẩy rụng rời Hương Giang
(Phố cũ chiều đau)

Nhưng , cho dù phong ba vùi dập , bão táp phủ lên quê nghèo và phủ lên cả thân phận con người thì đối với tác giả Lê Đăng Mành , với nhân cách và tâm trạng của một người từng trải , sống an nhiên , bằng cái tâm , cái đạo , đạt lý thông tình , thơ anh không tủi hờn ai oán, không than thân trách đời, không cầu kỳ mộng ảo .Dòng thơ anh luôn giữ được sự điềm đạm , an nhiên  sống hài hòa với cảnh vật thiên nhiên và trong chiều hướng vươn lên bằng những hi vọng tốt đẹp hơn.
Ta hãy nghe tác giả gửi lời tâm cảm :

Ruổi rong cưỡi vạt mây mù
Thả bầy hầy xuống trả u mê đời
Và chiều leo ngọn thảnh thơi
Đêm thanh nhàn tẩm nụ cười trăng tung
 Bát lục yên

Khi con tắt niệm tìm cầu
Mới hay áo gói ngọc châu trong ngần
Như cây cỏ cứ vô ngôn
Mà hương thơm mãi giữa nguồn không hai
“Cảm niệm mùa Phật đản “

Chiều nghiêng bến bãi cài sương
Lạnh tênh mái đẩy thuyền vương vấn hồn
Thôi thì chơi với gió mây
Đầu năm lộc héo phủi tay nhẹ hều
Rét giêng hai”
  
Thôi Ta giã phố tìm quê
Thỏng tay buông bỏ nhiêu khê lụy phiền
Thà về gối giấc cô miên
Tiêu dao đùa giỡn cõi miền nguyên sơ.
Về
  
Nắng phiêu lãng lội rong chơi
Để mây bày trận vây trời buồn thiu
Khói quen diễn vở đìu hiu
Mùa lơ đễnh giấu bóng liêu xiêu buồn
Dù mai chưa cạn não nề
Cũng cầm thanh thản giữa quê quán mình
Xuân riêng
  
Qua cơn khốn đốn não nề
Câu à ơi ! cũng bớt tê tái rồi
Mái nghèo đem khói lên phơi
Mẹ cầm miếng nắng mỉm cười soi xuân
 Mẹ và mùa xuân”

Ngạt ngào rơm rạ là quê
Nhiệm huyền hương lạ tràn trề chưng xuân
Mùi tre hóp - mùi bùn non
Mùi mồ hôi Mẹ tẩm nồng nàn xuân !

     Thơ Lê Đăng Mành là thế , chữ nghĩa tượng hình , giản dị chân phương, không trườu tượng , khoa trương rỗng tuếch , cũng ít ẩn dụ cầu kỳ nhưng lại là những dòng thơ hay..Được  kết hợp bằng những từ ngữ quá phong phú , nhạy bén  và một hồn thơ  chân thật, cảm xúc sâu lắng , tâm tình tha thiết , ý từ như quyện vào nhau thành một tổng thể thơ đặc sắc khi cứng, khi mềm, vừa bình dân, vừa bác học ,Văn phong tao nhã , kín đáo pha trộn chút không khí và ngôn ngữ đượm chất Thiền .Điều đặc biệt là ở cách dùng  những từ  đắc thể khó thay thế bằng những từ khác như  “ tung ” , “hắt”, “nhẹ hều”  “nắng phiêu lãng” lội “mây” “chết duối” (chiều) “leo” (ngọn thảnh thơi ), (bia ) “phơi” (miệng đời ) , (khói)  “leo” (mái rạ) ..vv .Chính nhờ những từ ngữ và hình tượng vật thể  được nhân cách hóa này khiến câu thơ linh hoạt , sống động , gợi hình , gợi cảm hơn một cách hoàn chỉnh  bất ngờ.
     Vượt qua bên ngoài những xúc cảm cá nhân tủn mủn, ái tình đôi lứa...,   hồn thơ LĐM  chứa đựng đầy ắp  tình người, tình quê hương, nhân sinh quan , đạo pháp..Giọng thơ thấm thía , sâu lắng tình cảm vị tha ,nhưng đôi khi cũng bàng bạc một nỗi buồn man mác về những hoài niệm quá khứ, về những bể dâu , thương hải thay đổi của dòng đời.
Nếu như cứ nghĩ thơ lục bát là vần điệu phải êm ái,nhẹ nhàng, chữ nghĩa văn vẻ trau chuốt  thì lục bát LĐM đôi khi ko đáp ứng được điều đó .Bởi ngôn ngữ thơ của anh đa diện, vần nhịp đôi khi khúc chiết , nhứt là anh hay chêm phương ngữ, nhưng đó lại chính là phong cách đăc biệt của thơ anh, một dòng '' lục bát quê '' đẹp và vững chãi trong dòng thác thi ca , chảy trong lòng người đọc để nhớ , để thương ,hoặc để tìm bình an  giữa những bề bộn của cuộc đời.
Xin cảm ơn Lục Bát Quê, cảm ơn tâm tình của tác giả.
WA tháng 3/2016
NHÃ MY-SƯƠNG LAM

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

BÌNH THƠ LỤC BÁT!

DI LUÂN ĐƯỜNG-QUỐC TỬ GIÁM
CÙNG PHIÊU VỚI THƠ ANH LÊ ĐĂNG MÀNH
(THƯ HOÀNG BÌNH THƠ)

PHỐ CŨ CHIỀU ĐAU!
Về Huế rủ bụi tang bồng
Qua nền Xã Tắc tủi phong rêu mình
Cột cờ gió trở lặng thinh
Triều nghi văn võ ngông nghênh mô rồi
Văn lâu khoa bảng một thời
Hồn lên Văn Thánh bia phơi miệng đời
Bến đò Thừa Phủ chao ơi !
Tắt câu mái đẩy rụng rời Hương Giang
Mượn trầm mặc bước lang thang
Chợt nghe giọng ngự Huyền Trân trị vì
Xin về phía Tĩnh Tâm trì
Chạm gạch Thượng Tứ rõ Di Luân Đường
Cầm tờ thơ dại mà thương
Chừ Thành Nội giẫm chán chường ngẩn ngơ
Lạc người… lạc bạn bơ vơ
Chánh Tây chiều bện tẩm quờ quạng đau!

Lê Đăng Mành

Lời bình:
Có rất nhiều sự vật và địa danh được nhắc đến trong thơ. Điều đó cho thấy anh đang viết về quê hương, một chốn thân thương dù đi xa nhưng chưa bao giờ rời khỏi lòng mình.
Huế đẹp như tranh vẽ và mang đầy hồn non nước xưa. Về với Huế ta như đi trong vùng cảm xúc, lặng nghe cỏ cây sông núi thủ thỉ cùng.
Về Huế rủ bụi tang bồng
..............................................
Mượn trầm mặc bước lang thang
Một lữ khách, đứa con xa quê, một trí thức đầy trăn trở khiến cảnh vật Huế càng trở nên hữu tình. Nghe câu thơ anh thả giữa thành nội vàng son mờ phai ai chẳng thắt thẻo đau buồn. 
Nghệ thuật "ve vuốt" trên những địa danh, trên từng kỷ vật...của anh LĐM đã vực dậy quá khứ một xứ sở kinh kỳ tráng lệ.
Quá khứ với hiện tại khiến Huế như một người bị đối xử bất công, hất hủi. "Nàng" ấy từng đẹp kiêu sa, từng phút huy hoàng nhưng "nhan sắc" ấy nay mai một cũ càng!
Qua nền Xã Tắc tủi phong rêu mình
Cột cờ gió trở lặng thinh
Triều nghi văn võ ngông nghênh mô rồi
Văn lâu khoa bảng một thời
Hồn lên Văn Thánh bia phơi miệng đời
Bến đò Thừa Phủ chao ơi !
Tắt câu mái đẩy rụng rời Hương Giang
Mỗi câu, mỗi chữ là một niềm đau buôn buốt nhưng không cay cú thô lỗ mà vẫn mang bản sắc dịu dàng nho nhã của người bản địa. Này đây "nền xã tắc" bám đầy rêu phong không còn ai chăm chút,gìn giữ như xưa. Ngước trông lên chẳng hơn gì một chiếc "cột cờ" chỏng chơ khát thèm "gió trở". Những mũ miện cân đai oai vệ của các triều thần đi chầu thánh chúa, những bảng vàng bia đá, "bến đò", "câu mái đẫy"...về đâu?
Chỉ còn bệ rồng "lặng ngắt như tờ" và sự thất thế của triều đại nho giáo. Giờ những giá trị tích cực cũng hầu như bị phủ nhận lãng quên.Thành nội chỉ còn trong luyến tiếc của những ông đồ già, của những đứa con đã quen bẫm báo lễ nghĩa.
Luyến về một thời đại, nâng niu quá khứ cũng là cái hồn xưa của những người rành về nho giáo, gần gũi với một thời kỳ lều chỏng khoa thi...Đọc thơ anh mà nghe man mác cõi lòng, có chút gì đồng cảm cùng câu thơ Bà Huyện Thanh Quan:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa
............................................................
Dừng chân đứng lại, trời non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta
Cùng với hàng loạt thán từ, động và tính từ tuyển như "chao ơi","tắt","chợt',"chạm","phơi',"tủi","ngông nghênh","rụng rời"....ý thơ sáng bừng lên mà chất chứa cả chiều sâu, ý nhị như tâm tình dân Huế. 
Không thể phủ nhận chính cách chọn chữ mang đến thành công cho nhiều tên tuổi người làm thơ. Ở đây tôi ngưỡng mộ khả năng đặt để chính xác chúng của anh LĐM khiến thơ anh như khó thể thay thế hơn những gì anh đã trình bày. Nghệ thuật dùng từ tinh tế, gợi cảm nhóm lên thắm đượm rực hồng lửa cảm xúc cho người viết, người xem.
Bến đò Thừa Phủ chao ơi !
Tắt câu mái đẩy rụng rời Hương Giang
Mượn trầm mặc bước lang thang
Chợt nghe giọng ngự Huyền Trân trị vì
Xin về phía Tĩnh Tâm trì
Chạm gạch Thượng Tứ rõ Di Luân Đường
Cầm tờ thơ dại mà thương
Chừ Thành Nội giẫm chán chường ngẩn ngơ
Còn quá nhiều những ngôn từ hay trong đoạn thơ này mà tôi chưa nhắc hết nhưng các bạn có thể để mắt xem tiếp ở những câu thơ bên dưới.
Sự "bọc lót" "gói mở" cho thấy tác giả mang hồn nhạy cảm và nỗi lòng với Huế trong anh là vô tận da diết. Tôi thích hướng "dìu thơ" đi của anh. Nó vừa nhẹ vừa mới lạ, chừng như anh cũng chỉ vừa mới khám phá ra và mang đến cảm giác nguyên tinh nóng hổi ấy cho bạn đọc.
Huế với những nét đặc trưng của cố đô hoa lệ một thời; nơi có dòng Hương giang với những con đò lững lờ đẹp dáng người con gái Huế.Và không thể thiếu những câu hò trong trẻo đậm đà chất nghệ sỹ. Cứ mường tượng thế khi nghĩ về Huế để rồi chợt đắng lòng khi vắng những nét điểm xuyết trên hoặc còn đấy song đã xơ xác điêu tàn!
................................................
Xin phép cho tôi lướt qua một đoạn dài gồm những câu diễn ý vì bài viết đã khá dài và thêm nữa mời các bạn cứ ngẫm nghĩ đi-tác giả viết rất rõ ràng dễ hiểu nhưng thần thái thơ thì phải đọc 'nguyên bản"mới "chạm' được chất thơ đan quyện và những tứ lạ chặt chẽ.
Tôi cho rằng đây là khổ thơ hay nhất trong bài vì nó không viết bằng cách thông thường mà "lật trở" uyển chuyển thả hồn vào trong vật.
Bài thơ anh viết không để giải trí mà làm "mệt" trí một cách đáng yêu, nỗi tiếc thương trong anh quá sâu sắc lồng với cách diễn đạt "hào hoa"(có lẽ dùng từ "hào hoa" ở đây chưa chính xác lắm nhưng tôi vẫn mạn phép bảo lưu ý kiến này) làm cung bậc thơ đa dạng hơn hẳn.
Cùng đi tới cặp kết để thấy tất cả vỡ òa ra, xót xa ngơ ngẩn:
Lạc người… lạc bạn bơ vơ
Chánh Tây chiều bện tẩm quờ quạng đau!
Những câu thơ như được ghép khít khao bởi tay người thợ khéo. Nhìn xem, nếu tách rời chúng thì ngôn ngữ đó rất bình thường, không hoa mỹ như nhiều nhà thơ hay dùng. Thế mà khi chúng đi cùng nhau, chữ này tôn "dáng' chữ kia và chúng chứa đầy tâm hồn người thơ, không chút sáo rỗng khoa trương.
Thơ anh LĐM là một giếng sâu cho những ai khao khát một miền thơ sâu thẳm. Chất liệu thơ anh xây dựng quá phong phú, lúc rắn lúc mềm, khi bác học, lúc bình dân...đó chính là cái chất thơ của tài năng thật sự.
Khen thơ anh nhiều quá cũng sợ gọi là tâng bốc nhưng quả thật tôi rất hài lòng khi thưởng thức bài thơ này và chắc nhiều người sẽ đồng cảm như tôi. Đây là một bài thơ theo tôi là thuộc hàng nổi trội trong thơ anh LĐM.
Nếu phải có một ý kiến nhỏ về hạn chế trong thơ thì tôi xin góp ý: có quá nhiều địa danh, sự vật mà không phải là dân địa phương thì không tường tận được ý nghĩa và gốc gác của chúng.Như là những " nền Xã Tắc","Văn lâu","Văn Thánh',"Tĩnh Tâm Trì","Thượng tứ","Di Luân Đường"... Giá mà anh kèm theo chú thích thì người ở xa như tôi và các bạn khác sẽ thấy hết được cái hay của nhiều vấn đề anh đặt ra từ những hình tượng, địa danh đó.
Thơ anh LĐM là thơ của trí tuệ pha chút chất thiền nên người đọc sẽ hiểu theo nhiều tầng rộng hẹp khác nhau. Muốn tìm đến cái say thì hãy đọc thơ anh, đọc khi mưa bay, khi gió nổi và rồi tựa cửa nhìn theo chiếc lá vàng bay cảm nhận một người thơ lãng tử ...
23/11/15
Thư Hoàng